![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||
![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||
|
#1
|
|||
|
|||
|
LCD và Plasma là hai công nghệ màn hình phổ biến nhất hiện nay, trong đó Plasma chủ yếu được dùng để sản xuất HDTV, trong khi LCD phổ biến ở cả TV và màn hình máy tính. Một số yếu tố quan trọng góp phần tạo nên chất lượng màn hình gồm: độ sâu màu (độ chuẩn xác của màu sắc được tái tạo trên màn hình), góc nhìn (màu sắc có bị biến đổi khi nhìn từ các góc khác nhau hay không) và khả năng xử lý chuyển động trong các pha hành động ở tốc độ cao. Plasma và LCD Plasma là công nghệ xuất hiện trước và nắm giữ vị thế độc tôn trong việc sản xuất HDTV, trước khi có sự xuất hiện và soán ngôi của công nghệ LCD. So với LCD, Plasma có một số ưu điểm, bên cạnh những nhược điểm khiến nó ngày càng thất thế trước công nghệ đối thủ. Hạn chế lớn nhất của công nghệ Plasma là ở mức độ tiêu thụ điện năng. Những chiếc HDTV Plasma nhìn chung tiêu thụ điện năng nhiều hơn so với TV LCD, khiến hóa đơn tiền điện nhà bạn mỗi tháng sẽ bị đội lên một khoản. ![]() Những chiếc TV Plasma đời cũ cũng gặp phải vấn đề với hiện tượng burn-in (cháy hình), tạo ra các "bóng ma". Đó là khi xuất hiện một số hình ảnh bị "chết" trên màn hình sau một thời gian sử dụng, tạo cảm giác có những bóng ma lờ mờ hiển thị ở phía sau các hình ảnh đang hiển thị thực tế trên màn hình. Tuy nhiên, hiện tượng này đã được cải thiện rõ rệt ở những dòng TV Plasma đời mới. Bên cạnh đó, vẫn có những lý do khiến nhiều người lựa chọn TV Plasma, thay vì LCD, đặc biệt là những người đề cao chất lượng hình ảnh. Màn hình Plasma xử lý các cảnh tối tốt hơn, qua đó tạo độ sâu màu cao hơn, đồng thời có góc nhìn rộng hơn so với LCD. TV Plasma cũng hiển thị những hình ảnh chuyển động nhanh mượt mà hơn so với LCD. Phải đến một vài năm trở lại đây, khi xuất hiện công nghệ đèn nền LED backlighting, đồng thời tốc độ làm tươi màu được tăng lên, thì LCD mới có thể cạnh tranh được với Plasma ở những khoản này. LCD (Liquid Crystal Display) - màn hình tinh thể lỏng Màn hình tinh thể lỏng là loại thiết bị hiển thị cấu tạo bởi các điểm ảnh chứa tinh thể lỏng có khả năng thay đổi tính phân cực của ánh sáng và do đó thay đổi cường độ ánh sáng truyền qua khi kết hợp với các kính lọc phân cực. Chúng có ưu điểm là phẳng, cho hình ảnh sáng, chân thật và tiết kiệm năng lượng. Dựa trên kiến trúc cấu tạo, LCD được chia thành 2 loại chính là LCD ma trận thụ động (DSTN LCD - Dual Scan Twisted Nematic) và LCD ma trận chủ động (TFT LCD - Thin Film Transistor). Điểm khác biệt cơ bản giữa hai loại này là cách thức điều khiển mỗi điểm ảnh (pixel). Màn hình LCD sử dụng một vài công nghệ khác nhau, trong đó, bộ đôi phổ biến nhất là công nghệ Twisted Nematic (TN) có ưu điểm là thời gian đáp ứng nhanh và In-Plane Switching (IPS) có khả năng thể hiện màu sắc trung thực, ấn tượng. Những mẫu LCD cao cấp hơn còn sử dụng các công nghệ như MVA (Multi-domain Vertical Alignment) và PVA (Patterned Vertical Alignment). ![]() Độ sâu của màu sắc Một số màn hình LCD được làm từ những tấm panel 6-bit có khả năng hiển thị xấp xỉ 65.000 màu, trong khi những panel 8-bit có khả năng hiển thị 16 triệu màu, còn những màn LCD 10-bit có thể hiển thị hơn 1 tỷ màu. Đối với phần lớn người dùng máy tính, một màn hình 6-bit có thể không lý tưởng, nhưng nếu bạn chỉ duyệt web và hay các công việc liên quan đến văn bản thì cũng khá ổn. Tuy nhiên, nếu công việc của bạn đòi hỏi độ chính xác màu sắc cao như chỉnh sửa ảnh, video, thì bạn cần sở hữu những màn hình ít nhất 8-bit. Những chiếc HDTV LCD hiện nay đa phần sử dụng màn hình 8-bit hoặc tốt hơn. Hệ thống chiếu sáng nền (Backlighting) Yếu tố khác biệt lớn khác giữa những chiếc LCD là hệ thống chiếu sáng nền. Theo truyền thống, LCD sử dụng công nghệ đèn nền huỳnh quang lạnh CCFL (Cold Cathode Fluorescent Lamp). Hạn chế lớn nhất của công nghệ này là nó sẽ làm màn hình trở nên tối hơn theo thời gian. Sự xuất hiện của hệ thống chiếu sáng nền LED (light-emitting diode) đã khắc phục lỗi trên và cung cấp thêm những lợi ích khác. Trong khi hệ thống đèn nền CCFL phải mất vài phút mới đạt được độ sáng đầy đủ khi bạn bật màn hình thì hệ thống đèn nền LED tự nó đã đầy đủ độ sáng khi khởi động. LED backlighting còn hiệu quả và lý tưởng cho laptop và các thiết bị khác như smartphone hay máy tính bảng. Hãng nghiên cứu thị trường DisplaySearch dự đoán rằng hơn nửa số HDTV được bán ra trong năm 2010 sẽ sử dụng công nghệ chiếu sáng nền LED. Với LED backlighting, còn có hai khái niệm cần phân biệt là Edge-lit LED backlighting và Full-array LED backlighting. Với hệ thống Edge-lit LED backlighting, các đèn LED được sắp xếp ở 4 cạnh của TV và ánh sáng được dẫn đến vùng giữa màn hình qua những "lightguides", là các đường truyền ánh sáng. Trong khi đó, ở hệ thống Full-array LED backlighting, các đèn LED được đặt ngay phía sau màn hình. |
|
#2
|
|||
|
|||
|
Không chỉ có độ sâu của màu sắc, hệ thống chiếu sáng nền (Backlighting), mà độ tươi, độ tương phản động và hình ảnh 3D cũng là một trong những yếu tố quan trọng đối với màn hình LCD và plasma. Độ làm tươi màn hình Mỗi màn hình đều có độ làm tươi hay còn gọi là Refresh rate và được tính theo Hertz. Độ làm tươi là số lần màn hình thay đổi trong 1 giây. Nếu Refresh rate của màn hình là 60Hz thì trong một giây màn hình sẽ thay đổi 60 lần để cho ra hình ảnh (cho dù là ảnh động hay ảnh tĩnh). Màn hình LCD thường có độ làm tươi 60Hz, 120Hz, hay 240Hz. Độ làm tươi là một yếu tố quan trọng thể hiện cách màn hình hiển thị với những cảnh chuyển động nhanh, đặc biệt trong các môn thể thao tốc độ như đua xe, trượt tuyết hay phim hành động. Nhìn chung, độ làm tươi màn hình càng cao, các cảnh chuyển động càng mượt mà. Độ tương phản động Rất nhiều nhà sản xuất 'chú ý' đến độ tương phản động, khi nó được cho là chỉ số cho biết độ rộng dãy sáng và dãy tối mà HDTV hay màn hình máy tính hiển thị. Tuy nhiên, xét cho cùng, đây là yếu tố vô nghĩa để kiểm chứng chất lượng màn hình. Hiện tại chưa có cách thức chuẩn để đo nó, điều đó giải thích tại sao một số hãng có thể ghi độ tương phản động 20.000:1, trong khi hãng khác có thể "nhấc" lên đến 1.000.000:1. Cho đến khi nghành công nghiệp điện tử tìm được phương pháp đo độ tương phản động, người dùng không nên chú trọng vào thông số kỹ thuật này. Thay vào đó, bạn hãy sử dụng đôi mắt của mình để đánh giá màn hình. Đó là những màn hình có màu đen tối, tránh màn hình mà màu đen giống màu xám nhiều hơn. 3D Màn hình 3D nhìn chung hoạt động bằng cách hiển thị hai dòng video cùng lúc: một cho mắt trái và một cho mắt phải. Khung hình cho những tín hiệu video này được xen lẫn, vì thế bạn cần đeo kính để lọc hai tín hiệu. Một chiếc HDTV hay màn hình 3D cần độ làm tươi nhanh khoảng 120Hz hoặc cao hơn dù đó là màn hình LCD hay plasma. Vì một chiếc TV 3D đòi hỏi hai tín hiệu video cho hiệu ứng 3D, nên nó cần hai bộ nhận và chuyển đổi tín hiệu thành hình ảnh HD Tuner. Một công nghệ 3D sắp ra mắt được gọi là công nghệ tự động chuyển đổi hình ảnh 3 chiều, nói cách khác, người dùng không cần đến kính chuyên dụng vẫn xem được hình ảnh 3D. Theo nhiều chuyên gia, công nghệ này không còn là tương lai quá xa đối với những thiết bị như smartphone và máy chơi game Nintendo 3DS. |
| CHUYÊN MỤC ĐƯỢC TÀI TRỢ BỞI |
![]() |
| Công cụ bài viết | |
| Kiểu hiển thị | |
|
|